Cơ đốc giáo tác động tích cực đến chính trị

Phúc âm Vương quốc ảnh hưởng đến chính trị như thế nào?

Hội thánh đầu tiên là một cộng đồng lý tưởng. Khi Chúa cai trị qua tấm lòng của dân Ngài, Ngài đã tạo ra một xã hội lý tưởng. Mọi người chia sẻ tài nguyên của họ. “Không ai cho rằng bất kỳ tài sản nào của mình là của riêng, nhưng họ chia sẻ mọi thứ mình có” (Công vụ 4:32), “Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người” (Công vụ 2:44-45).

 

Cộng đồng này không có sự phân biệt giai cấp, không có xung đột giới tính, không có căng thẳng sắc tộc và không có chủ nghĩa bộ lạc. “Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Giê-su Christ, anh em thảy đều làm một” (Ga-la-ti 3:28). Các thành viên của cộng đồng này không có bất kỳ xung đột nào. Giai cấp công nhân không thấy mình bị đối đầu với giai cấp thượng lưu. Khi họ được Đức Thánh Linh dẫn dắt, không ai nhìn những người nói ngôn ngữ khác, có màu da khác, hoặc theo chế độ ăn uống khác một cách nghi ngờ,

 

Tất cả mọi người trong cộng đồng này đều bình đẳng, và họ thuộc về nhau như một gia đình. Không ai có địa vị cao hơn bất kỳ ai khác, vì tất cả đều là con cái của Chúa và liên quan đến nhau như anh chị em, Chúa Giê-su đã dạy họ, “Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em.  Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.  Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.  Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi. Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên” (Ma-thi-ơ 23:8-12).

 

Lời cảnh báo về thế giới này.

 

Thánh Linh giúp hình thành nên một cộng đồng như vậy trên thế giới này, nhưng Tân Ước không cho chúng ta biết rằng toàn bộ xã hội sẽ được biến đổi theo cách này. Trong nhiều dịp, Chúa Giê-su cảnh báo chúng ta rằng điều ngược lại sẽ xảy ra. Trong bài giảng về những điều sau cùng, ngài chuẩn bị cho các môn đồ của mình về một thực tế khắc nghiệt: “Dân này sẽ nổi lên chống lại dân kia, nước nọ chống lại nước kia. Sẽ có nạn đói và động đất ở nhiều nơi” (Ma-thi-ơ 24:7). Trong Bài giảng từ biệt, Ngài cảnh báo các môn đồ, “Trong thế gian này, các ngươi sẽ gặp hoạn nạn.” Và sau đó ngài nói thêm, “Nhưng hãy vững lòng! Ta đã thắng thế gian rồi” (Giăng 16:33).

 

Vậy thì dân sự của Đức Chúa Trời có nên rút lui khỏi thế gian này và chấp nhận sự thật rằng nó đã bị diệt vong và không thể cứu chuộc được không? Họ có nên tránh xa các thể chế thế tục, tránh xa chính trị và thay vào đó tập trung vào việc cứu rỗi linh hồn không? Nếu thế gian đang trên con đường phán xét không thể đảo ngược, thì các Cơ đốc nhân có nên tập trung nỗ lực của mình vào việc đưa càng nhiều người càng tốt ra khỏi thế gian và vào hội thánh không? Thái độ như vậy đối với xã hội dân sự có thể đòi hỏi sự ủng hộ đáng kể từ Kinh thánh, đặc biệt là từ sách Khải huyền. Trong sách tiên tri này, các vua của trái đất liên kết với Sa-tan và các thế lực chống Cơ Đốc giáo. Thậm chí còn có một lời kêu gọi trực tiếp để thoát khỏi thế gian tội lỗi này. Khi thiên sứ tuyên bố phán quyết trên Ba-by-lôn lớn, sứ đồ Giăng đã nghe thấy một giọng nói từ thiên đàng phán rằng: “”Hãy ra khỏi nó, hỡi dân ta,’ để các ngươi không dự phần vào tội lỗi của nó, để các ngươi không phải chịu bất kỳ tai họa nào của nó” (Khải huyền 18:4).

 

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm nếu hiểu những từ này như một lời kêu gọi chung là hãy càng ít liên quan đến thế gian càng tốt. Trong sách Khải huyền, Ba-by-lôn tượng trưng cho sức mạnh kinh tế của Đế chế La Mã (so sánh Khải huyền 17). Kinh Thánh thường cảnh báo về sự giàu có và khả năng dụ dỗ mọi người tránh xa sự cam kết với Chúa Giê-su Christ của chúng ta. Bức chân dung Ba-by-lôn của Giăng cho thấy sự đồi trụy của những cuộc khai thác vật chất, đặc biệt là khi chúng dựa vào sự bóc lột những người kém may mắn hơn. Lời kêu gọi rời khỏi Ba-by-lôn không phải là lời cảnh báo chống lại sự tham gia vào xã hội nói chung mà là chống lại vẻ hào nhoáng của sự giàu có.

 

Quyền cai trị của Chúa, Vương quốc của Ngài ảnh hưởng đến xã hội

 

Trong các bối cảnh khác, Tân Ước cho thấy rằng việc công bố quyền cai trị của Chúa có tác động sâu sắc đến xã hội. Theo lời rao giảng của Sứ đồ Phao-lô, thành phố Ê-phê-sô đã trải qua một cuộc phục hung. Thành phố lớn này đã thay đổi. Một số lượng lớn người dân tin vào phúc âm và quay lưng lại với các vị thần của tôn giáo truyền thống của họ. Một sự biến đổi như vậy sẽ không bị bỏ qua. Nó sẽ gây ra hậu quả ở mọi tầng lớp xã hội. Mọi người sẽ không còn tham gia vào các hoạt động thờ ngẫu tượng vốn là xương sống của mọi cuộc sống cộng đồng. Nền kinh tế của thành phố cũng sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc. Giáo phái quan trọng nhất ở Ê-phê-sô thờ nữ thần Đi-anh. Đền thờ của bà là nguồn thu nhập quan trọng cho thành phố. Nghề thợ bạc dựa vào nhu cầu về đền thờ bằng bạc dành riêng cho nữ thần Đi-anh. Khi Phao-lô dạy mọi người rằng các vị thần do bàn tay con người tạo ra không phải là thần, thì sự quan tâm đến các đền thờ như vậy sẽ tan biến và một nguồn thu nhập lớn sẽ cạn kiệt. Lo sợ cho tương lai của cuộc sống, người thợ bạc Đê-mê-triu đã kích động đám đông náo loạn. Chỉ có sự can thiệp khéo léo của viên thư ký thành phố mới ngăn được đám đông trở nên hung bạo (Công vụ 19:23-41). Sự việc này cho thấy sự tiến triển của phúc âm không chỉ được cảm nhận ở cấp độ cá nhân. Hiệu ứng lan tỏa của nó cũng được cảm nhận trong toàn xã hội. Nó ảnh hưởng đến các hoạt động tôn giáo, hoạt động xã hội và thậm chí là nền kinh tế.

 

“Lịch sử của hội thánh đã cho thấy phúc âm đã tác động như thế nào đến xã hội. Trong thế giới Hy Lạp-La Mã, những đứa trẻ không mong muốn thường bị giết ngay sau khi chúng được sinh ra. Giáo hội phản đối hoạt động này và nó đã bị một trong những hoàng đế Cơ đốc giáo đầu tiên, Valentinian I (364-375) cấm. Những người theo đạo Cơ đốc đã thành lập các bệnh viện từ thiện đầu tiên phục vụ công chúng. Họ cũng là những người tiên phong trong việc thành lập các trại trẻ mồ côi và các tổ chức chăm sóc người già.”1

 

Xu hướng chủ đạo trong suốt lịch sử là hội thánh tham gia vào xã hội và chính quyền dân sự. Những người tiếp nhận phúc âm biết rằng Chúa Giê-su là Chúa tể của tất cả mọi người và họ mong muốn thấy quyền lực của Ngài được tôn trọng trong toàn xã hội. Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất là những gì đã xảy ra ở thành phố Geneva của Thụy Sĩ vào thế kỷ XVI. Năm 1541, thành phố chính thức chấp nhận Cải cách Tin lành và thông qua một giáo đoàn Tin lành. Chính quyền thành phố được truyền cảm hứng từ nhà cải chánh John Calvin, ông đã dạy rằng chính quyền dân sự phải chịu trách nhiệm trước Chúa về cách họ cai trị xã hội.

 

Thành phố Geneva đã sử dụng luật pháp để đảm bảo lối sống Cơ đốc của công dân. Đó là yêu cầu pháp lý rằng mọi người phải đến nhà thờ vào Chủ Nhật. Luật cũng bao gồm quy định về trang phục cũng như các quy định về đời sống xã hội và cách mọi người có thể trang bị đồ đạc cho ngôi nhà của mình để tránh sự xa hoa vô đạo đức. Hình phạt cho hành vi vi phạm các luật này có thể rất nghiêm khắc. Năm 1553, nhà thần học người Tây Ban Nha Michael Servetus đã bị kết tội dị giáo. Vì ông đã phủ nhận Chúa Ba Ngôi và chỉ trích việc thực hành lễ báp-tem cho trẻ sơ sinh, ông đã bị kết án tử hình và bị thiêu sống. Những người cải cách ở Geneva có ý định tốt, nhưng lòng nhiệt thành với đức tin Cơ đốc đã bị sai lầm và dẫn đến hậu quả thảm khốc. Thật là sai lầm khi cố gắng cai trị xã hội như thể đó là cộng đồng hội thánh.

Một cách cai trị mới dưới giao ước mới trong Tân ước.

Cựu ước khác với Tân ước ở những điểm nào?

 

Trong Cựu Ước, Chúa đã thực hiện quyền cai trị của mình theo cách thưởng phạt. Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm dân của mình và ban cho họ những luật lệ tốt lành của Ngài. Ý muốn tốt lành của Chúa đã được ghi vào hiến pháp của quốc gia. Luật pháp nghiêm cấm việc không vâng lời Chúa và những ai làm như vậy sẽ bị trừng phạt. Nếu trẻ em liên tục không tôn trọng cha mẹ, chúng đang chống lại lệnh truyền của Chúa là phải tôn kính cha mẹ. Luật pháp của Y-sơ-ra-ên ra lệnh rằng những đứa trẻ như vậy phải bị xử tử. “Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ” (Phục truyền luật lệ ký 21:18-21).

 

Trong Cựu Ước, quyền cai trị của Chúa được áp đặt lên con người từ bên ngoài, thông qua luật pháp thành văn. Thể chế này là một phần trong kế hoạch hoàn hảo của Chúa, nhưng nó không tạo ra một xã hội tuân theo luật pháp Chúa. Quyền cai trị của Chúa không được hiện thực hóa thông qua luật pháp của Môi-se. Lịch sử của Y-sơ-ra-ên cho thấy rõ ràng rằng giao ước Môi-se không mang lại sự cai trị của Chúa. Cuối cùng, người dân Y-sơ-ra-ên đã mất tất cả. Thủ đô của họ là Giê-ru-sa-lem, đã bị người Ba-by-lôn chinh phục vào năm 586 TCN. Đền thờ của Chúa, tòa nhà mà Ngài đã chọn làm nơi hiện diện của Ngài, đã bị san bằng. Người dân bị lưu đày và mất vùng đất mà Chúa đã ban cho họ. Luật pháp Môi-se đã cho họ thấy một xã hội do Chúa cai trị sẽ như thế nào, nhưng tội lỗi của người dân đã ngăn cản xã hội đó thành hiện thực.

 

Khi những tín nhân không học được bài học từ lịch sử của Y-sơ-ra-ên, họ không hiểu được cách thức cai trị của Chúa được thể hiện ngày nay. Có nhiều Cơ đốc nhân tin rằng chúng ta có thể thúc đẩy sự nghiệp của Chúa bằng cách ban hành luật pháp theo ý muốn của Ngài. Họ lo ngại về sự vô đạo đức xung quanh và họ nghĩ rằng chúng ta cần luật pháp để thay đổi điều đó. Đọc những câu chuyện về sự trừng phạt của Chúa đối với Y-sơ-ra-ên, họ lo lắng rằng sự vô đạo đức của quốc gia họ sẽ phải chịu cơn thịnh nộ của Chúa. Họ không nghĩ rằng Chúa không còn đối xử với các quốc gia trên thế giới theo cách Ngài đối xử với Y-sơ-ra-ên theo giao ước cũ nữa. Lịch sử của Y-sơ-ra-ên cho thấy lý do tại sao Chúa cần phải làm mọi việc theo một cách khác.

Nhà tiên tri Giê-rê-mi hiểu được vấn đề của Y-sơ-ra-ên là gì, và ông nhận ra rằng quốc gia này cần một loại hiến pháp hoàn toàn khác. Họ cần một giao ước mới sẽ nội tại hóa luật pháp của Chúa.

 

“Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va, vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa” (Giê-rê-mi 31:31-34)

 

Theo giao ước mới, ý muốn của Đức Chúa Trời không còn được áp đặt lên con người từ bên ngoài, thông qua luật pháp viết ra. Nó đến từ bên trong, từ tấm lòng. Con người không cần người khác dạy họ về Chúa vì họ biết Ngài. Mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời không còn là mối quan hệ được trung gian qua các thầy tế lễ và qua luật pháp thành văn nữa. Con người biết Đức Chúa Trời một cách cá nhân và thân mật. Họ làm theo ý muốn của Ngài không phải vì họ bị ép buộc mà vì họ muốn. Ý muốn của Đức Chúa Trời không còn ở bên ngoài nữa, mà là ở bên trong.

 

Luật pháp của xã hội sẽ luôn ở bên ngoài. Luật pháp có thể kiểm soát những gì con người làm bằng tay, nhưng chúng không bao giờ có thể kiểm soát được những gì trong lòng họ. Luật pháp của xã hội có thể cấm giết người, và chúng có thể quy định hình phạt thích đáng cho những kẻ phạm tội như vậy. Theo cách này, luật pháp có thể tạo ra đủ nỗi sợ hãi để không ai phạm tội giết người. Nhưng không có luật nào có thể kiểm soát được những gì sâu xa trong tấm lòng con người. Không có luật nào có thể quy định rằng mọi người phải yêu thương nhau.

 

Chúng ta có thể minh họa điều này bằng một thí nghiệm tư duy. Hãy tưởng tượng một xã hội cố gắng ban hành luật để hướng đến tình yêu và lòng tốt. Cơ quan quản lý của một xã hội như vậy có thể thông qua Đạo luật Tình yêu vị tha. Sẽ có một luật quy định rằng mọi người phải mỉm cười với nhau. Mỗi ngày, cảnh sát sẽ thẩm vấn tất cả công dân và hỏi họ rằng họ có chắc chắn mỉm cười mỗi khi tương tác với người khác không. Những người trả lời không sẽ phải vào tù. Bất kỳ ai nói chuyện giận dữ với người khác sẽ bị trừng phạt theo cách tương tự. Một luật khác sẽ nêu rõ rằng những hành động tử tế ngẫu nhiên là nghĩa vụ pháp lý đối với mọi người. Vào cuối mỗi tháng, Sở Thuế vụ nội địa sẽ yêu cầu tất cả công dân phải khai báo. Khai báo sẽ nêu chi tiết tất cả các hành động tử tế do mỗi cá nhân thực hiện. Nếu có vài người trong số họ vi phạm luật, cá nhân đó sẽ phải làm dịch vụ cộng đồng, thể hiện lòng tốt với những người nghèo. Chúng ta có thể tưởng tượng ra một xã hội hoạt động như thế này, nhưng tưởng tượng ra điều đó có nghĩa là nhận ra rằng nó không bao giờ có thể tồn tại.

 

Chính quyền dân sự không phải lúc nào cũng sử dụng hình phạt để đạt được mục tiêu của mình. Củ cà rốt thường có hiệu quả hơn cây gậy, và trong trường hợp của chính phủ, điều đó có nghĩa là tiền. Các lợi ích về thuế và trợ cấp trực tiếp thường đủ để khuyến khích người dân áp dụng hành vi mà chính phủ cho là mong muốn. Tuy nhiên, một số thói quen khó bỏ, chẳng hạn như sở thích của người Mỹ đối với những chiếc xe ngốn xăng và sự nhiệt tình của một số ít người Việt Nam đối với các quán ăn bán thịt chó và mèo. Trong mọi trường hợp, bất cứ điều gì có thể đạt được thông qua các động cơ kinh tế đều chỉ giới hạn ở hành vi bên ngoài. Tiền không thể biến đổi con người và làm họ trở nên mới mẻ. Điều duy nhất xảy ra khi bạn đưa tiền cho mọi người là họ muốn có nhiều tiền hơn.

 

Kinh nghiệm gần đây ở Trung Quốc cung cấp một ví dụ thuyết phục về sự khó khăn trong việc thay đổi văn hóa theo cách này. Có một sự quan tâm lớn đến bóng đá ở Trung Quốc, cùng với mong muốn mãnh liệt phát triển một giải bóng đá Trung Quốc có thể cạnh tranh với những giải đấu tốt nhất trên thế giới. Với mức lương cao nhất thế giới, người Trung Quốc đã cố gắng thu hút những tài năng giỏi nhất trong số các cầu thủ quốc tế. Kết quả không mấy ấn tượng. Trung Quốc còn lâu mới có thể cạnh tranh với các quốc gia lớn có nền văn hóa nhiệt tình với bóng đá kéo dài hàng thập kỷ. Tạp chí Anh The Economist nhận xét, “Văn hóa bóng đá/đẳng cấp bóng đá không thể mua được bằng tiền hoặc điều chỉnh để tồn tại.”2

Cách mới của Chúa để thay đổi xã hội hoàn toàn khác. Chúa Giê-su không thiết lập sự cai trị của Chúa bằng phần thưởng và hình phạt bên ngoài (Ngài không dùng đến cây gậy và củ cà rốt). Sự cai trị của Ngài đến từ bên trong. Đức Thánh Linh được đổ vào lòng chúng ta và khiến chúng ta muốn làm theo ý muốn của Chúa. Chúa Giê-su thực hiện sự cai trị thông qua một loại ép buộc khác, động lực đến từ việc biết tình yêu của Chúa Giê-su. “Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình” (2 Cô-rinh-tô 5:14-15).

 

Khi bạn đã trải nghiệm sự nối kết cá nhân thân mật với Chúa Giê-su. Bạn biết phải sống như thế nào theo lời dạy của Ngài.

 

Vai trò của Chính phủ

 

Vậy thì, không có chỗ cho chính quyền dân sự nơi mà sự cai trị của Đức Chúa Trời được thiết lập sao? Trong vương quốc tương lai, chắc chắn sẽ không có mục đích nào cho chính quyền như vậy, nhưng chúng ta vẫn chưa thấy sự biểu hiện đầy đủ của sự cai trị của Đức Chúa Trời. Khi một số người Pha-ri-si hỏi Chúa Giê-su về việc nộp thuế, Ngài trả lời họ, “Hãy trả cho Sê-sa những gì thuộc về Sê-sa và trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời” (Mác 12:17). Với câu trả lời này, Ngài đã nói rõ rằng Ngài không đến để phế truất Sê-sa. Vẫn có một vị trí hợp pháp cho chính quyền dân sự, ngay cả khi Chúa Giê-su đang thiết lập sự cai trị của Đức Chúa Trời.

 

Sứ đồ Phao-lô giải thích thêm: “Vì người cầm quyền là tôi tớ của Đức Chúa Trời để làm ích cho anh em. Nhưng nếu anh em làm điều sai trái, hãy sợ hãi, vì những người cầm quyền không mang gươm vô cớ. Họ là tôi tớ của Đức Chúa Trời, là những kẻ làm ra cơn thịnh nộ để trừng phạt kẻ làm điều sai trái” (Rô-ma 13:4). Chính quyền dân sự có thẩm quyền do Chúa ban cho để sử dụng vũ lực nhằm đảm bảo luật pháp và trật tự. Theo cách này, một số hạn chế đối với tội lỗi của con người được đặt ra. Do đó, các tín đồ phải phục tùng chính quyền và họ phải nộp thuế (Rô-ma 13:1, 5-7). Những người phục vụ trong chính quyền nên là đối tượng của những lời cầu nguyện đặc biệt. Phao-lô viết cho Ti-mô-thê: “Vậy, trước hết, tôi khuyên hãy cầu nguyện, cầu xin, chuyển cầu và tạ ơn cho mọi người cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta được sống bình an và yên tĩnh trong mọi sự tin kính và thánh khiết” (1 Ti-mô-thê 2:1-2). Trong khi Phao-lô khẳng định vai trò do Chúa ban cho chính quyền, ông xác nhận: chính quyền là tôi tớ của Chúa.

 

Việc những người có thẩm quyền là tôi tớ của Chúa không có nghĩa là họ tốt. Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, Phao-lô đề cập đến một ví dụ về một người có thẩm quyền là Pha-ra-ôn. Vị vua này không tốt, nhưng dù sao thì Đức Chúa Trời cũng đã hoàn thành mục đích của Ngài qua ông: “Vì Kinh thánh có chép cùng Pha-ra-ôn rằng: Ta đã dấy ngươi lên chính vì mục đích nầy, là để tỏ quyền phép ta trong ngươi, và để danh ta được rao truyền khắp đất” (Rô-ma 9:17). Việc các nhà cầm quyền là tôi tớ của Đức Chúa Trời có nghĩa là Đức Chúa Trời sử dụng họ để thực hiện các kế hoạch của Ngài, bất kể họ có biết hay không.

 

Trong lời khuyên nhủ của mình gửi đến hội thánh ở Rô-ma, Phao-lô cho rằng chính quyền sử dụng thẩm quyền của mình vì mục đích tốt. Ông hỏi: “Các ngươi có muốn thoát khỏi sự sợ hãi người cầm quyền không?” “Vậy hãy làm điều công bình, thì sẽ được khen ngợi” (Rô-ma 13:3). Phao-lô không thảo luận về việc một Cơ đốc nhân nên làm gì khi không phải như vậy. Tất cả các tác giả Kinh thánh đều đồng ý rằng Đức Chúa Trời “là Chúa của muôn vật” (Rô-ma 10:12), và sách Công vụ đưa ra một nguyên tắc quan trọng: “Chúng ta phải vâng lời Đức Chúa Trời hơn là vâng lời loài người!” (Công vụ 5:29). Sách Khải huyền phát triển thêm điểm này. Những tín nhân có trách nhiệm không vâng lời các nhà chức trách khi họ được yêu cầu phạm tội với Đức Chúa Trời. Chỉ những người từ chối dấu hiệu của con thú sẽ được cứu khỏi sự phán xét của Chúa (Khải. 14:9-11; 20:4). Là tôi tớ của Chúa, các nhà chức trách cũng phải chịu trách nhiệm trước Chúa. Sách Khải huyền vẽ nên một bức tranh sinh động về sự phán xét mà Chúa sẽ giáng xuống những kẻ thống trị thế gian này khi họ chống lại Ngài.

 

Trong một nền dân chủ hiện đại, về nguyên tắc, mọi công dân bỏ phiếu đều là người cai trị đất nước của họ. Do đó, lẽ thật trong Kinh thánh rằng những kẻ thống trị phải chịu trách nhiệm trước Chúa có thể áp dụng cho tất cả mọi người. Chúng ta phải chịu trách nhiệm trước Chúa về cách chúng ta sử dụng lá phiếu của mình, cũng như chúng ta phải chịu trách nhiệm về mọi việc chúng ta làm. Tân Ước không đưa ra bản thiết kế cho một chương trình nghị sự chính trị. Những Cơ đốc nhân trung thành sẽ “bắt mọi ý tưởng phải vâng phục Đấng Christ” (2 Cô-rinh-tô 10:5) và tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh khi họ bỏ phiếu. Tuy nhiên, những Cơ đốc nhân sẽ đưa ra những kết luận khác nhau và những bất đồng về những câu hỏi này không nên gây ra sự chia rẽ trong hội thánh. Những Cơ đốc nhân đoàn kết vì một mục đích cao cả hơn là bầu ra chính quyền tiếp theo trên đất này; họ là tôi tớ của Đức Chúa Trời.

 

Các sứ đồ của Đấng Christ quan tâm đến một điều gì đó quan trọng hơn nhiều so với chính trị; họ đang trong công việc mang lại sự thay đổi thực sự, sự thay đổi đến từ bên trong và biến đổi xã hội. Loại thay đổi này không phụ thuộc vào những người nắm giữ quyền lực chính trị và nó không do chính quyền mang lại. Loại thay đổi này xảy ra khi hội thánh công bố vương quốc của Đức Chúa Trời.

 

Chính quyền dân sự không có vai trò trực tiếp nào trong việc công bố vương quốc của Đức Chúa Trời. Do đó, không có chính quyền nào như vậy được nhầm lẫn với sự cai trị của Đức Chúa Trời và chúng ta không nên nghĩ rằng chính quyền có thể được sử dụng để thúc đẩy vương quốc của Đức Chúa Trời. Chính quyền dân sự có thể là một công cụ vì điều tốt nhưng chỉ theo nghĩa tương đối. Nếu chính phủ hứa sẽ mang lại xã hội tốt đẹp theo nghĩa tuyệt đối, thì họ đang tuyên bố một vai trò mà chỉ dành riêng cho Chúa. Một chính phủ như vậy đại diện cho kẻ chống Chúa bằng cách cố gắng thay thế Chúa Giê-su.

 

Mục đích phổ quát của Chúa

 

Mặc dù chính phủ không và không thể thực hiện quyền cai trị của Chúa, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu nghĩ rằng mục đích của Chúa không bao gồm chính phủ và xã hội nói chung. Quyền cai trị của Ngài không chỉ giới hạn ở nhà thờ; Ngài cai trị toàn bộ xã hội và cả chính phủ. Chúa là vua của toàn vũ trụ, và việc tuyên bố vương quyền của Ngài không chỉ liên quan đến niềm tin và quan điểm của những cá nhân được chọn. Nó liên quan đến toàn thế giới, cả dưới đất và trên trời.

 

Trong thư gửi tín hữu Ê-phê-sô, sứ đồ Phao-lô đã vẽ nên một bức tranh hấp dẫn về mục đích phổ quát của Chúa. Những tác động của phúc âm sẽ không chỉ được cảm nhận bởi nhà thờ mà còn bởi các thế lực tâm linh đang hoạt động trên thế giới. “Mục đích của Chúa là để bây giờ, thông qua nhà thờ, sự khôn ngoan đa dạng của Chúa được bày tỏ cho những người cai trị và những người có thẩm quyền ở các cõi trên trời” (Ê-phê-sô 3:10).

 

Ngôn ngữ của Phao-lô nghe có vẻ lạ đối với những người theo đạo Thiên chúa hiện đại khi ông nói rất tự nhiên về những người cai trị và những người có thẩm quyền trên trời. Chúng ta thường không gán những sự kiện hàng ngày cho ảnh hưởng của các thế lực trên trời. Chúng ta nghĩ rằng bối cảnh chính trị và các giá trị văn hóa của chúng ta là kết quả của những lựa chọn của riêng chúng ta và rằng những thế lực duy nhất kiểm soát các sự kiện hàng ngày là các thế lực của con người (trừ khi chúng ta tin rằng Chúa đã can thiệp và làm điều gì đó phi thường, như một phép lạ, nhưng đó sẽ là một ngoại lệ đối với trật tự tự nhiên của mọi thứ).

 

Phao-lô có quan điểm khác. Ông nhận thức rằng con người tự tạo ra số phận của mình và các sự kiện diễn ra thông qua nguyên nhân và kết quả, nhưng ông biết rằng các thế lực tâm linh cũng đang hoạt động. Thông qua ảnh hưởng của chúng lên tư duy, xu hướng văn hóa và quy ước xã hội của con người, các thế lực tâm linh thực thi thẩm quyền của chúng trên thế giới này.

 

Trong thời đại của chúng ta, chúng ta có xu hướng sử dụng các thuật ngữ khác nhau cho các thế lực này. Khi các cấu trúc xã hội và hành vi của con người thay đổi, chúng ta có thể quy cho ảnh hưởng của các lực lượng thị trường phi nhân cách hoặc sự phát triển công nghệ. Các lựa chọn đạo đức của cá nhân có thể được giải thích là kết quả tất yếu của bối cảnh gia đình và xã hội. Hành vi của mọi người tại các sự kiện thể thao lớn hoặc các cuộc mít tinh chính trị cho chúng ta thấy rằng họ cư xử khác trong đám đông so với khi họ ở một mình. Lời giải thích liên quan đến áp lực từ bạn bè và tâm lý đám đông. Ở nhiều cấp độ khác nhau, chúng ta cảm nhận rằng có những thế lực trong thế giới của chúng ta, những thế lực không thể được xác định là những tác nhân con người cụ thể, mặc dù chúng có thể không hoạt động độc lập với con người. Không thể phủ nhận ảnh hưởng của chúng. Trong Tân Ước, những thế lực như vậy được gọi là các quyền năng và thẩm quyền thuộc linh ở các nơi trên trời. Chúng ta không nên bác bỏ những gì chúng ta được nghe về những thế lực này, ngay cả khi thuật ngữ của sứ đồ Phao-lô không quen thuộc với chúng ta. Quan điểm của ông rất rõ ràng: mục đích của Chúa không chỉ là sự cứu rỗi của hội thánh mà còn là hội thánh sẽ công bố kế hoạch của Chúa cho các thế lực của vũ trụ. Mục đích của Chúa không chỉ liên quan đến những người tin Chúa mà còn liên quan đến toàn thể tạo vật, cả hữu hình và vô hình.

 

Trước đó trong Ê-phê-sô, Phao-lô đưa ra một tuyên bố thậm chí còn cao cả hơn về bản chất phổ quát của thông điệp mà ông công bố: Chúa đã cho “chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo ý định mà Ngài đã tự lập thành trước trong lòng nhân từ Ngài  để làm sự định trước đó trong khi kỳ mãn, hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất” (Ê-phê-sô 1:9-10). Cụm từ cuối cùng này khó dịch. Từ Hy Lạp được dịch là “hội hiệp muôn vật lại” (anakephalaioō) thường có nghĩa là rút ra kết luận hoặc tóm tắt lại. Ý của Phao-lô là mọi vật trong toàn thể vũ trụ đều ở trong tình trạng hỗn loạn vì tội lỗi, nhưng giờ đây công việc của Đấng Christ và quyền tể trị của Ngài đã đưa mọi vật lại với nhau theo một trật tự mới. Phao-lô nhấn mạnh rằng không có giới hạn nào đối với những tác động của phúc âm. Phúc âm vươn tới toàn thể tạo vật, cả hữu hình và vô hình. “Vì trong Đấng Christ, muôn vật đã được dựng nên: những vật trên trời và dưới đất, hữu hình và vô hình, hoặc ngôi vua, hoặc quyền thế, hoặc bậc cầm quyền, hoặc bậc cầm quyền; mọi vật đều được tạo dựng bởi Ngài và vì Ngài” (Cô-lô-se 1:16). Mọi vật sáng tạo đều thuộc về Đấng Christ, có sự hiện hữu nhờ Ngài và có mục đích trong Ngài. Bây giờ Đấng Christ đang đòi lại sự sáng tạo của Ngài. Mục đích của Đức Chúa Trời là mọi vật sẽ tìm được vị trí và chức năng thích hợp của chúng trong mối quan hệ với Đấng Christ.

 

Khi Đức Chúa Trời tái lập quyền cai trị của Ngài qua Đấng Christ, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến Hội thánh. Ý định của Ngài không chỉ là tạo ra một lãnh thổ hạn chế cho chính Ngài, Hội thánh, nơi mà quyền cai trị của Ngài sẽ được duy trì. Ngài mở rộng phạm vi của mình ra toàn vũ trụ. Đức Chúa Trời là vua của vũ trụ, và trong Đấng Christ, Ngài đến để khôi phục lại vương quyền của mình. Một vai trò hạn chế là Đầu của Hội thánh sẽ không làm Ngài thỏa mãn. Bây giờ Ngài đang công bố quyền cai trị của mình. Ngài sẽ sắp xếp lại các thế lực ảnh hưởng đến văn hóa ở cấp độ sâu hơn những gì chính phủ làm. Những thế lực này giờ đây sẽ hoàn thành các mục đích của Đức Chúa Trời trong xã hội.

 

Hội thánh đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thành kế hoạch tổng thể của Đức Chúa Trời, như Phao-lô giải thích với người Ê-phê-sô. “Ấy vậy, hiện nay sự khôn sáng mọi đường của Đức Chúa Trời cậy Hội thánh mà bày tỏ ra cho những kẻ làm đầu và những kẻ cầm quyền trong các nơi trên trời” (Ê-phê-sô 3:10). Phao-lô có một tầm nhìn tuyệt vời về vai trò của hội thánh đối với toàn cõi vũ trụ. Hội thánh đóng vai trò quan trọng trong việc công bố mục đích của Đức Chúa Trời không chỉ cho những người tin mà còn cho các quyền lực  của “những kẻ cầm quyền ở các nơi trên trời.” Hội thánh là tác nhân của Đức Chúa Trời, làm cho sự khôn ngoan của Ngài được biết đến, sự khôn ngoan liên quan đến việc phục hồi sự sáng tạo dưới quyền tể trị của Đấng Christ. Nói cách khác, Đấng Christ sử dụng hội thánh để công bố quyền tể trị của Ngài trên vũ trụ. Theo ngôn ngữ quân sự, hội thánh là đội quân mở rộng chiến thắng của Đấng Christ trong suốt sự sáng tạo. Nhưng ngôn ngữ quân sự lại gây hiểu lầm. Hội thánh không mở rộng chiến thắng của Đấng Christ bằng sự cưỡng bức, giống như một lực lượng quân sự. Hội thánh làm cho sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời được biết đến. Hội thánh không áp đặt nó. Chiến thắng của hội thánh nằm ở khả năng hiện thân cho chiến thắng của Đấng Christ và là minh chứng sống động cho hiệu quả của chiến thắng đó. Theo cách này, hội thánh giống như bộ phận truyền thông của nhà Vua hơn. Hội thánh công bố chiến thắng của Đấng Christ và công bố sự cai trị của Ngài ở khắp mọi nơi.

Trong Ê-phê-sô, Phao-lô giải thích rằng Đấng Christ đã đến để mang lại hòa bình và sự hòa giải. Ngài đã mang lại hòa bình với Đức Chúa Trời cho những người tin. Ngài đã đổi sự thù địch của chúng ta thành tình bạn. Tội lỗi của chúng ta không còn khiến chúng ta trở thành kẻ thù của Đức Chúa Trời nữa. Qua sự chết của Ngài, Đấng Christ đã cất tội lỗi của chúng ta và mang lại sự hòa giải và hòa bình. Sự hòa giải này được chứng minh trong hội thánh, vì Đấng Christ đồng thời đã phá hủy một loại thù địch khác: thù địch giữa những người có nguồn gốc dân tộc khác nhau, thù địch giữa người Do Thái và dân ngoại. Mục đích của Ngài là tạo ra trong chính Ngài một nhân loại mới từ hai dân tộc chính: Do Thái và các dân ngoại, do đó tạo ra hòa bình, và trong một thân thể để hòa giải cả hai với Đức Chúa Trời qua thập tự giá, qua đó Ngài đã giết chết sự thù địch giữa họ.

“Bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai (người Do thái và dân ngoại) lập nên một người mới trong Ngài, và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 2:15-16).

Chính sự tồn tại của hội thánh – bao gồm người Do Thái và các dân ngoại, những người từ các quốc gia khác nhau, những người từng là kẻ thù – tuyên bố chiến thắng của Đấng Christ. Nó tuyên bố rằng Đấng Christ đã phá hủy sự thù địch. Nó tuyên bố rằng Chúa Giê-su đã mang lại sự hòa giải. Nó cho biết rằng hòa bình bây giờ đã đến.

 

Vương quốc Đức Chúa Trời không thuộc về thế giới này

 

Lời tuyên bố của hội thánh liên quan đến toàn thế giới, trong mọi quốc gia và trong mọi khía cạnh của xã hội. Quyền cai trị của Chúa là phổ quát. Nhưng chúng ta không được nghĩ về vương quốc của Chúa theo cách chúng ta nghĩ về các vương quốc của thế giới này. Trong cuộc trò chuyện với Bôn-xơ Phi-lát, Chúa Giê-su đã nói rõ điều này: “Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới” (Giăng 18:36).

 

Vương quốc và thẩm quyền của Chúa Giê-su có bản chất hoàn toàn khác với vương quốc và thẩm quyền của Bôn-xơ Phi-lát. Phi-lát cai trị bằng sức mạnh của quân đội La Mã. Thẩm quyền của ông phụ thuộc vào khả năng tập hợp một lực lượng quân sự vượt trội của ông. Vương quốc của Chúa lấn át mọi vương quốc trên thế giới này, nhưng điều đó không có nghĩa là quân đoàn của Chúa sẽ đến và đánh bại quân đoàn của La Mã. “Vương quốc của ta không thuộc về thế gian này”, Chúa Giê-su nói. Đó không phải là một vương quốc cai trị bằng sức mạnh quân sự.

 

Phúc âm của Giăng chứng minh tính chất khác biệt của quyền năng của Chúa, đặc biệt là khi nó mô tả con đường của Chúa Giê-su đi đến cái chết của Ngài. Giăng cho thấy rằng sự đóng đinh của Chúa Giê-su là sự lên ngôi của Ngài. Khi Ngài bước đến thập tự giá, Chúa Giê-su hoàn toàn kiểm soát mọi bước đi trên hành trình cứu chuộc nhân loại. Không ai lấy đi mạng sống của Ngài; Ngài tự nguyện từ bỏ nó. Ngài nói với Phi-lát, “Nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi không có quyền gì trên ta; vậy nên, kẻ nộp ta cho ngươi là có tội trọng hơn nữa” ( Giăng 19:11). Khi những người lính đến bắt Chúa Giê-su, tất cả những gì Chúa Giê-su phải làm là xác định danh tính của mình, và những người lính đã té ngã xuống đất. Theo phúc âm Giăng, “Đức Chúa Giê-su biết mọi điều sẽ xảy đến cho mình, bèn bước tới mà hỏi rằng: Các ngươi tìm ai? Chúng trả lời rằng: Tìm Giê-su người Na-xa-rét. Đức Chúa Giê-su phán rằng: Chính ta đây! Giu-đa là kẻ phản Ngài cũng đứng đó với họ.  Vừa khi Đức Chúa Giê-su phán: Chính ta đây, chúng bèn thối lui và té xuống đất” (Giăng 18:4-6).

 

Chỉ cần Chúa Giê-su nói, “Chính ta đây” là có thể đánh bại được quân lính. Đó là cách mà quyền năng của Chúa vượt trội hơn quyền năng của quân đội loài người.

 

Khi Chúa Giê-su bị xét xử trước quan Phi-lát, Giăng tiết lộ rằng phiên tòa thực sự diễn ra ở cấp độ sâu hơn. Phi-lát là người bị xét xử trước Chúa Giê-su. Câu hỏi đặt ra là liệu ông có chấp nhận sự thật mà Chúa Giê-su tuyên bố hay không. Với câu hỏi này, “Lẽ thật là gì?” (Giăng 18:38), Phi-lát cho thấy ông không đủ khả năng để ứng phó.

 

Khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, Người bị đóng đinh là “VUA CỦA NGƯỜI DO THÁI” (19:19). Trong Phúc âm Giăng, Chúa Giê-su đã nhiều lần dự đoán trước về sự đóng đinh của mình và Ngài đã gọi đó là sự tôn vinh của Ngài, thời điểm Ngài sẽ “được nâng lên” hoặc “được tôn cao” (3:14-15; 8:28; 12:32-34).

 

Trong Ma-thi-ơ và Mác, những lời cuối cùng của Chúa Giê-su là “Lạy Đức Chúa Trời tôi, lạy Đức Chúa Trời tôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Ma-thi-ơ 27:46; Mác 15:34). Sự tương phản với Phúc âm Giăng thật rõ ràng. Trong tường thuật của Giăng, những lời cuối cùng của Chúa Giê-su là “Mọi sự đã hoàn tất” (Giăng 19:30). Khi Chúa Giê-su trút hơi thở cuối cùng, chiến thắng của Ngài đã hoàn tất.2 Do đó, sự đóng đinh của Chúa Giê-su là sự đăng quang của Ngài, và sự đăng quang này dạy chúng ta rất nhiều điều về bản chất vương quyền của Chúa Giê-su. Ngài không cai trị bằng vũ lực; Ngài cai trị bằng sự hy sinh. Ngài không sử dụng sự ép buộc để bắt mọi người làm theo ý muốn của Ngài; Ngài dựa vào sức mạnh thúc đẩy của tình yêu. Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian này!

 

Trong Phúc âm Mác, các môn đồ được dạy một bài học tương tự khi Chúa Giê-su đang trên đường đến Giê-ru-sa-lem. Sau một cuộc tranh cãi giữa các môn đồ về việc ai sẽ là lớn nhất, Chúa Giê-su phải nói thẳng với họ: “Các ngươi biết rằng giữa các dân ngoại, những kẻ được họ công nhận là thủ lãnh thì thống trị họ, và những người lớn thì chuyên quyền cai trị họ. Nhưng giữa các ngươi thì không như vậy; trái lại, ai muốn làm lớn giữa các ngươi thì phải làm người phục vụ các ngươi, và ai muốn làm đầu các ngươi thì phải làm tôi mọi mọi người. Vì Con Người đã đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mác 10:42-45).

 

Về cơ bản luật lệ được thực hiện trong vương quốc của Chúa thật đáng ngạc nhiên. Đó là luật lệ lấy mọi thứ chúng ta biết về thẩm quyền và đảo ngược nó.

 

 

Trong thế giới của chúng ta, những người cai trị thường áp đặt ý chí của họ lên công dân. Trong vương quốc Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su không áp đặt sự cai trị của mình bằng vũ lực. Ngài không tuyển dụng những người khác vào sự phục vụ của mình để thúc đẩy chương trình nghị sự của Ngài. Ngài tự tuyển dụng chính mình như một người đầy tớ của tất cả mọi người. Ngài không sử dụng nguồn lực của người khác để sử dụng chúng cho mục đích riêng của mình. Ngài hy sinh tất cả nguồn lực của mình để có thể trao mọi thứ cho những người theo mình, thậm chí cả mạng sống của chính mình. Khi gặp mọi người, Ngài không nói với họ, “Đừng đòi hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn; hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước.” Chúa Giê-su đến với một yêu cầu hoàn toàn khác: “Ngươi muốn ta làm gì cho ngươi?” (Lu-ca 18:41).

 

Quyền năng của Chúa Giê-su thì khác. Ngài thực hiện quyền năng của mình không phải bằng cách ép buộc mà bằng cách thể hiện tình yêu của mình một cách thuyết phục đến mức mọi người bị thuyết phục để trở thành những người đi theo Ngài. Điều này đúng khi Chúa Giê-su gặp gỡ các cá nhân, và điều này đúng đối với thẩm quyền của Chúa Giê-su trong hội thánh. Điều này cũng đúng khi nói đến ảnh hưởng của Chúa Giê-su đối với toàn xã hội.

 

Các tác nhân thay đổi xã hội

 

Trong suốt chiều dài lịch sử, đã có nhiều ví dụ về cách xã hội thay đổi thông qua ảnh hưởng của dân sự Chúa. Sự thay đổi không đến từ bên ngoài thông qua luật pháp, cưỡng chế và các động cơ khác mà đến từ bên trong. Lời chứng của hội thánh đã mang lại sự thay đổi cho cuộc sống của mọi người, xã hội đã được chuyển đổi và các nền văn hóa mới đã được tạo ra. Dưới đây là hai ví dụ cho thấy Chúa đang làm điều không thể và Ngài biến đổi các quốc gia và thay đổi xã hội.

 

Martin Luther King Jr. yêu cầu quyền bỏ phiếu cho người Mỹ gốc Phi.

 

“Điều đó là không thể về mặt chính trị”3, Tổng thống Lyndon B. Johnson trả lời khi Martin Luther King Jr. yêu cầu quyền bỏ phiếu cho người Mỹ gốc Phi. Tổng thống thông cảm với mục đích của King, nhưng ông nhấn mạnh rằng việc cấp quyền bỏ phiếu là không thực tế.

King đáp trả rằng công lý không thể chờ đợi. Đầu năm 1965, ông đã tổ chức một cuộc tuần hành từ Selma đến Montgomery để đòi quyền bỏ phiếu. Khi những người biểu tình băng qua Cầu Edmund Pettis, lực lượng thực thi pháp luật địa phương đã ra lệnh cho họ quay lại. Những người biểu tình từ chối, và cảnh sát đáp trả bằng cách tấn công họ bằng dùi cui, roi da và hơi cay. Hơn năm mươi người đã phải nhập viện.

 

Hình ảnh trên phương tiện truyền thông về các cuộc tấn công tàn bạo nhằm vào những người biểu tình ôn hòa đã gây chấn động khắp đất nước, và ngay lập tức đã có làn sóng đồng cảm với phong trào dân quyền. Hai tuần sau, những người biểu tình đã tham gia cùng hàng nghìn người từ khắp cả nước. Lần này, cuộc diễu hành đến thủ phủ của tiểu bang được phép diễn ra, với sự bảo vệ của cơ quan thực thi pháp luật liên bang. Chỉ vài tháng sau, luật về Quyền bầu cử đã được đưa vào luật.

 

 

Ít có phong trào nào thay đổi xã hội Hoa Kỳ sâu sắc hơn phong trào dân quyền. Phần lớn sức mạnh của nó nằm ở thực tế rằng đó là một phong trào cộng đồng, được tổ chức bởi các hội thánh địa phương. Nó không phụ thuộc vào các chính trị gia thông minh, khả năng đàm phán và bảo đảm rằng các luật mới được thông qua của họ. Martin Luther King Jr. không liên kết với bất kỳ đảng phái chính trị nào và chủ yếu hoạt động bên ngoài các kênh chính trị. Nhưng ảnh hưởng của ông thậm chí còn vượt xa cả tổng thống, và ông nắm giữ một quyền lực đã chứng minh là hiệu quả hơn cả chính trị. Đó là một quyền lực bao gồm thẩm quyền đạo đức. Quyền uy đạo đức của cuộc biểu tình ôn hòa của King hấp dẫn đến mức các nhà lập pháp không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp thuận đòi hỏi của ông.

 

 

Phong trào dân quyền của King xuất phát từ lời dạy của Chúa Giê-su. Ông được truyền cảm hứng từ bậc thầy đã dạy chúng ta yêu kẻ thù của mình. Bất kỳ ai đọc bài phát biểu của King sẽ bị ấn tượng bởi sự khác biệt của chúng so với các bài phát biểu chính trị mà chúng ta nghe thấy hàng ngày. Là một người Mỹ gốc Phi, King thuộc về một nhóm lớn những người đã bị áp bức trong nhiều thế kỷ. Ông đã đưa ra lời kêu gọi rõ ràng để chống lại sự bất công và sự lạm dụng mà người Mỹ gốc Phi phải trải qua hàng ngày. Nhưng ông không có khuynh hướng “chúng ta chống lại họ là những người da trắng.” Ông không triệu tập một nhóm người tốt để chống lại những kẻ xấu. King không định nghĩa cuộc đấu tranh của mình với những người khác, thậm chí cả những người muốn làm hại ông. Các bài phát biểu của ông liên tục quay trở lại với những lời mạnh mẽ của Chúa Giê-su: “Hãy yêu kẻ thù của bạn.”

 

Một ví dụ đặc biệt hấp dẫn được tìm thấy trong bài phát biểu của King vào dịp Ghana ra đời như một quốc gia. Ghana đã bị nhiều quốc gia châu Âu xâm chiếm trong nhiều thế kỷ nhưng cuối cùng đã trở thành quốc gia độc lập vào năm 1957. Trong bài phát biểu của mình, Đức Vua đã ca ngợi sự hòa giải giữa những người thực dân cũ và chính phủ mới. Ông vui mừng vì Thủ tướng Kwame Nkrumah đã được nhìn thấy khiêu vũ với nữ công tước xứ Kent tại một vũ hội nhà nước. Và sau đó, ông đã nói những lời đẹp đẽ này về mục đích của các hoạt động của chính mình:

 

Hậu quả của bất bạo động là sự sáng tạo của cộng đồng được yêu thương. Hậu quả của bất bạo động là sự cứu chuộc. Hậu quả của bất bạo động là sự hòa giải. Hậu quả của bạo lực là sự trống rỗng và cay đắng. Chúng ta hãy đấu tranh một cách nồng nhiệt và không ngừng nghỉ vì mục tiêu công lý và hòa bình. Nhưng hãy chắc chắn rằng tay chúng ta sạch sẽ trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta đừng bao giờ đấu tranh bằng sự dối trá, bạo lực, hận thù và ác ý, mà hãy luôn đấu tranh bằng tình yêu thương, để đến ngày những bức tường phân biệt chủng tộc hoàn toàn sụp đổ, chúng ta sẽ có thể chung sống với mọi người như anh chị em của họ. Các Cơ đốc nhân cần nhìn thấy mục tiêu của chúng ta không phải là đánh bại bất kỳ ông bà nghị sĩ nào đang cổ xúy cho vấn đề phân biệt chủng tộc. Mục tiêu của chúng ta phải là đánh bại cái ác trong họ. Nhưng mục tiêu của chúng ta cũng là giành được tình bạn của các nghị sĩ đối kháng với chúng ta.

Chúng ta phải đi đến điểm nhìn thấy rằng mục tiêu cuối cùng của chúng ta là chung sống với tất cả mọi người như anh chị em trong Chúa, và không trở thành kẻ thù của họ hay bất cứ điều gì đi kèm với loại mối quan hệ đó. Và đây là một điều mà Ghana dạy chúng ta: rằng bạn có thể thoát khỏi cái ác thông qua bất bạo động, thông qua việc không cay đắng với những người đang chống đối chúng ta.”4

 

Rất thường xuyên, cuộc đấu tranh của chúng ta cho một xã hội tốt đẹp hơn lại thoái hóa thành một cuộc xung đột giữa những người đồng ý với chúng ta và những người không đồng ý với chúng ta. Sự tham gia của chúng ta vào chính trị diễn ra dưới hình thức một cuộc chiến mà chúng ta quyết tâm giành chiến thắng cho phe mình và thất bại cho phe đối lập. Chúng ta không còn nhìn thấy mục tiêu về một thế giới tốt đẹp hơn và tập trung vào việc giành được vị thế mạnh mẽ hơn cho nhóm của mình. Sự tham gia của Cơ đốc nhân vào chính trị thường chỉ là một hình thức khác của chủ nghĩa bộ lạc, hay chính trị bản sắc, như người ta thường gọi. Nhiều lần Cơ đốc nhân đã tham gia vào một lý tưởng: xem mục tiêu của mình là một cuộc chiến chống lại những đối thủ mà chúng ta cho là đối thủ. Chúng ta đã coi tiến trình chính trị là một cuộc xung đột. Chúng ta đã tìm kiếm một vị thế mạnh mẽ hơn cho những người có niềm tin vào Cơ đốc giáo như chúng ta hoặc cho những người có xuất thân dân tộc như chúng ta. Kết quả là, chúng ta đã xác định tâm thái chính trị của mình là tham gia vào một cuộc chiến chống lại những người có chủng tộc khác hoặc tín ngưỡng tôn giáo khác.

 

Bài phát biểu của King đáng kinh ngạc là không có loại chính trị bản sắc này. Ông không xác định mục tiêu của mình là chiến thắng cho người Mỹ gốc Phi và thất bại cho những kẻ phân biệt chủng tộc. Ông tìm cách vượt qua chính nạn phân biệt chủng tộc. Ông tìm cách đánh bại sự tồn tại của bất công. “Mục tiêu của chúng ta không bao giờ là đánh bại hoặc làm nhục người da trắng, mà là giành được tình bạn và sự hiểu biết của họ. Chúng ta phải nhận ra rằng mục đích cuối cùng mà chúng ta tìm kiếm là một xã hội hòa bình với chính mình, một xã hội có thể sống với lương tâm của mình. Và đó sẽ là ngày không phải của người da trắng, không phải của người da đen. Đó sẽ là ngày của những con người thực sự.”5

 

 

Cam kết của King không chỉ giới hạn ở cộng đồng người Mỹ gốc Phi; ông cam kết với toàn thể nhân loại. Ước mơ của ông là tình anh em và tình chị em của tất cả mọi người, một sự thống nhất thực sự, và sự thống nhất như vậy không thể được xây dựng trên chiến thắng của một số người và thất bại của những người khác. Nó chỉ có thể được xây dựng trên nền tảng của sự hòa giải. Và ông biết rằng để có sự hòa giải thực sự, những người coi nhau là kẻ thù phải cùng nhau hiểu biết và thậm chí là thông cảm, “Đây chính là ý nghĩa và giá trị thực sự của lòng trắc ẩn và bất bạo động, khi nó giúp chúng ta nhìn nhận quan điểm của kẻ thù, lắng nghe câu hỏi của kẻ thù, biết được đánh giá của kẻ thù về bản thân mình. Vì từ quan điểm của kẻ thù, chúng ta thực sự có thể nhìn thấy những điểm yếu cơ bản trong tình trạng của chính mình, và nếu chúng ta trưởng thành, chúng ta có thể học hỏi, phát triển và hưởng lợi từ sự khôn ngoan của những người anh em được gọi là phe đối lập.”6

 

King biết rằng sự thay đổi đến từ bên trong. Ông biết rằng khi con người thay đổi, xã hội cũng thay đổi. Và ông biết rằng sức mạnh thay đổi con người không phải là sức mạnh cưỡng chế của bạo lực mà là sức mạnh thuyết phục của bất bạo động. Ông biết rằng ánh sáng không thể đến từ bóng tối, vì vậy ông hiểu rằng các phương pháp ông sử dụng phải là vũ khí của ánh sáng. Nếu ông muốn nhìn thấy một thế giới đoàn kết và tình anh em lớn hơn, ông phải sử dụng vũ khí của tình yêu.

 

“Tôi quan tâm đến một thế giới tốt đẹp hơn. Tôi quan tâm đến công lý; Tôi quan tâm đến tình anh em; Tôi quan tâm đến sự thật. Và khi một người lo lắng về điều đó, anh ta không bao giờ có thể ủng hộ bạo lực. Bởi vì thông qua bạo lực, bạn có thể giết một kẻ giết người, nhưng bạn không thể giết chết những kẻ giết người. Thông qua bạo lực, bạn có thể giết một kẻ nói dối, nhưng bạn không thể thiết lập sự thật. Thông qua bạo lực, bạn có thể giết một kẻ thù ghét, nhưng bạn không thể giết chết lòng thù ghét thông qua bạo lực. Bóng tối không thể dập tắt bóng tối; chỉ có ánh sáng mới làm được điều đó.”7

 

Như phong trào của  Martin Luther King đã chỉ ra, phương pháp này thực sự có tính biến đổi. Nó có sức mạnh thay đổi xã hội vì nó thay đổi con người. Nó chiến thắng cái ác bằng cái thiện, như sứ đồ Phao-lô đã dạy. “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-ma 12:21). King biết điều này có nghĩa là gì trong thực tế. Ông nói rằng phương pháp bất bạo động “có cách để tước vũ khí của đối thủ. Nó phơi bày sự phòng thủ về mặt đạo đức của họ. Nó làm suy yếu tinh thần của họ, đồng thời nó tác động đến lương tâm của họ, và họ không biết phải làm gì.”8

 

Phong trào của King đã mang lại những thay đổi lớn cho xã hội Hoa Kỳ. Những thay đổi này cuối cùng đã được đưa vào các luật quan trọng, các luật thể hiện lý tưởng về sự bình đẳng của tất cả mọi người. Nhưng luật mới không thay đổi giá trị của con người. Chính giá trị đã thay đổi luật. Đây là cách mà sự cai trị của Chúa thay đổi xã hội chúng ta: khi dân sự của Đức Chúa Trời sống dưới sự cai trị của Vua Giê-su Christ, và khi họ tuân theo vị Vua này bất kể cái giá phải trả cho việc thực hành những lời mà Vua Giê-su nói. Vua đã cho chúng ta thấy ý nghĩa của việc bảo vệ kẻ thù của bạn, và những nhành ô-liu đã đến với tất cả mọi người trên khắp đất nước, cho đến tận Nhà Trắng, và tất cả mọi người trên thế giới.

 

 

Một tiến trình nghịch lý

 

Những sự kiện như phong trào dân quyền của Martin Luther King Jr. ở Hoa Kỳ. Một câu chuyện khác tương tự ở Romania và những nơi khác đã khiến nhiều Cơ đốc nhân tin rằng lịch sử sẽ liên tục tiến về phía trước để hoàn thành đầy đủ các mục đích tuyệt vời của Chúa. Họ đã nghĩ rằng sự cai trị không thể ngăn cản của Chúa sẽ đi vào thế giới ngày càng nhiều hơn, biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn để sống, cho đến khi sự cai trị của Chúa thể hiện ở khắp mọi nơi trên trái đất. Có những lý do chính đáng để tin vào điều này. Vương quốc Đức Chúa Trời đã ở trong chúng ta. “Nước Đức Chúa Trời ở trong/ở giữa các ngươi” (Lu-ca 17:21). Và sự cai trị của Chúa  không thể bị đánh bại. Sự cai trị chiến thắng của Đức Chúa Trời đã diễn ra trong Chúa Giê-su Christ. Chúng ta không chờ đợi thêm bất kỳ chiến thắng nào nữa. Chúng ta chỉ đang chờ đợi để chứng kiến ​​sự biểu hiện của chiến thắng đã giành được. Điều này có nghĩa hội thánh của Đức Chúa Trời tại mỗi địa phương đang đứng trên chiến thắng của Chúa Giê-su tại thập tự giá, để đưa vương quốc đến cho mọi người.

 

Chúa Giê-su nói rõ rằng sự cai trị của Chúa sẽ tiếp tục tiến triển, nhưng cái ác vẫn tồn tại cho đến ngày cuối cùng.

 

Trong Ma-thi-ơ 13:24-30, Chúa đưa ra câu chuyện ngụ ngôn về cỏ dại và lúa mì cùng nhau phát triển trên thế giới. Câu chuyện này đã được lý giải ở chương 3.

 

Trong môn học Giải Kinh, đã có nhiều cuộc tranh luận đáng kể về câu chuyện ngụ ngôn này. Nhiều Cơ đốc nhân đã đọc câu chuyện ngụ ngôn về cỏ lùng và kết luận rằng, cho đến khi Chúa Giê-su trở lại, hội thánh sẽ bao gồm cả những người tốt và xấu. Sẽ có những kẻ đạo đức giả lẫn vào trong dân sự của Chúa, và chúng ta không được phép cố gắng nhổ tận gốc chúng.

Những người khác đã phản đối cách giải thích này bằng cách chỉ ra rằng khi Chúa Giê-su giải thích dụ ngôn, ngài không xác định ruộng là hội thánh, ngài cũng không nói rằng cỏ dại là những người trong hội thánh. Thay vào đó, Ngài tuyên bố rằng “ruộng là thế gian; giống tốt, là con cái nước thiên đàng; cỏ lùng, là con cái quỉ dữ” (Ma-thi-ơ 13:38). Do đó, không có khả năng Chúa Giê-su có ý nói hội thánh là “ruộng”.

Thay vào đó, ngài đang giải thích bản chất của sự phát triển của sự cai trị của Đức Chúa Trời. Trong khi sự cai trị của Đức Chúa Trời phát triển, thì cái ác cũng phát triển theo. Trong thế giới này, các thế lực bóng tối hiện diện giữa sự cai trị của Đức Chúa Trời. Sự hiện diện của sự cai trị của Đức Chúa Trời không có nghĩa là sự vắng mặt của các thế lực tà ác. Trong thế giới này, cái ác vẫn tiếp tục tồn tại. Các thế lực bóng tối bị đánh bại và phải chịu sự hủy diệt, nhưng chúng chưa bị loại bỏ hiện nay.

 

Quyền cai trị của Đức Chúa Trời hiện hữu một cách mạnh mẽ, nhưng sự hiện diện liên tục của cái ác làm cho nhiều người không nhìn thấy được quyền cai trị của Ngài. Sứ đồ Phao-lô giải thích rằng quyền năng của Đức Chúa Trời hiện hữu một cách nghịch lý trên thế gian này. Trong thư gửi cho người Cô-rinh-tô, ông đã thảo luận về điều này rất dài dòng vì một số người Cô-rinh-tô “đòi bằng chứng rằng Đấng Christ đã phán qua” ông. “Vì anh em phải có một bằng cớ rằng Đấng Christ phán bởi tôi” (2 Cô-rinh-tô 13:3). Phao-lô không tỏ ra là người có quyền lực lắm, và nhiều thành viên trong hội thánh đã chế giễu ông: “Có người nói rằng các thơ của Phao-lô nặng lời và bạo mạnh; nhưng đến khi có mặt thì người yếu đuối và lời nói chẳng có giá gì” (2 Cô-rinh-tô 10:10),

 

Nhiều người không nhận ra quyền cai trị của Đức Chúa Trời vì thế gian cho rằng đó là sự yếu đuối. Như Phao-lô đã giải thích với người Cô-rinh-tô, “Sứ điệp về thập tự giá là sự điên rồ đối với những kẻ đang hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu rỗi, thì đó là quyền năng của Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 1:18). Phúc âm có vẻ không có gì hấp dẫn. Người ta có thể nhầm lẫn rằng đó là sự điên rồ và yếu đuối. Chúa Giê-su trông giống như một kẻ thua cuộc thảm hại khi bị đóng đinh, và những người qua đường chế giễu Ngài. Nhưng trong sự yếu đuối của mình, Ngài đã thực hiện sức mạnh vĩ đại nhất từng được biết đến, và viên đại đội trưởng La Mã đứng gác tại cây thánh giá đã phải thú nhận: “Chắc chắn người này là Con Đức Chúa Trời” (Mác 15:39).

 

Chúng ta nên mong đợi sự cai trị của Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục thể hiện theo cách tương tự thông qua hội thánh. Nó có vẻ không mấy ấn tượng. Trong một dụ ngôn khác, Chúa Giê-su giải thích rằng nước Đức Chúa Trời giống như hạt cải. Điều này cũng đã được đề cập đến trong chương 3 nói về ý nghĩa các dụ ngôn mà Chúa Giê-su đã dạy chúng ta.

 

Quyền năng của sự cai trị của Đức Chúa Trời ẩn giấu dưới vẻ ngoài nhỏ bé và tầm thường, nhưng đừng nhầm lẫn: sự cai trị của Đức Chúa Trời hay các qui luật của vương quốc Ngài đang hoạt động trên thế giới một cách mạnh mẽ.

 

Điều mà dụ ngôn về cỏ lùng làm rõ là sự tiến triển của vương quyền của Chúa không loại bỏ các thế lực của cái ác ở phía bên này của sự phán xét cuối cùng. Vương quyền của Chúa  hiện diện một cách nghịch lý giữa cái ác và cái thiện. Nhưng lịch sử của hội thánh cho chúng ta thấy rằng khi vương quyền của Chúa được công bố, thì các thế lực của cái ác thức dậy sau giấc ngủ. Vương quyền của Chúa giống như một loại thuốc mạnh được giải phóng trong cơ thể. Khi các kháng thể đang chống lại căn bệnh, chúng ta cảm thấy như mình đang ốm hơn, nhưng sự khó chịu gia tăng thực sự là dấu hiệu của sự chữa lành. Khi vương quyền của Chúa thể hiện, thì cái ác đã ngủ yên sẽ ra trận lần cuối. Cho đến khi sự phán xét cuối cùng đến, chúng ta không nên mong đợi cái ác sẽ lắng xuống trước khi Chúa Giê-su tái lâm trong vinh quang.

 

Khi chúng ta thấy vương quyền của Chúa trên thế giới này, chúng ta không nên nghĩ rằng cái ác sẽ biến mất hoàn toàn. Chúng ta nên mong đợi các cộng đồng và quốc gia sẽ thay đổi theo hướng tốt hơn khi phúc âm được truyền bá giữa mọi người, nhưng chúng ta không nên nghĩ rằng các quốc gia trên thế giới này sẽ phát triển thành những xã hội mà không có gì ngoài sự bình an của Chúa. Chúng ta không nên tìm kiếm ảnh hưởng của Cơ đốc giáo để biến thế giới này thành một thế giới lý tưởng. Cỏ dại sẽ luôn tiếp tục phát triển giữa những hạt giống tốt. Khi phúc âm tiếp tục được rao giảng trên khắp thế giới, chúng ta sẽ thấy ngày càng nhiều người làm chúng ta kinh ngạc với những minh chứng về tình yêu của Chúa. Nhưng những hành động xấu xa không thể hiểu thấu cũng sẽ trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu.

Martin Luther đã viết:
“Vì ở đâu Đức Chúa Trời xây nhà thờ, thì ở đó ma quỷ cũng sẽ xây nhà nguyện. Ma quỷ là con khỉ bắt chước Đức Chúa Trời.”9

Thực tế ở Hoa kỳ cho chúng ta thấy, Giáo hội Sa-tan hay “Nhà thờ Sa-tan” (Church of Satan) là một tổ chức tôn giáo thuộc về đạo Sa-tan được hệ thống hóa trong Kinh Sa-tan (The Satanic Bible). Nhà thờ Sa-tan được thành lập ở San Francisco, California vào  ngày 30 tháng 4 năm 1966, bởi Anton LaVey Szandor giữ chức vụ thầy tế lễ thượng phẩm (High Priest) cho đến khi ông qua đời vào năm 1997. Năm 2001, Peter H. Gilmore được bổ nhiệm vị trí Thượng tế, và trụ sở của nhà thờ đã được chuyển đến Manhattan, New York.10

 

Khi những Cơ đốc nhân phải đối mặt với những gì dường như là khả năng ngày càng gia tăng của cái ác trên thế giới, chúng ta không nên nghĩ rằng sự cai trị của Chúa đang suy yếu. Mọi thứ của thế gian đang sụp đổ đúng như Chúa Giê-su đã tiên đoán. Hạt giống tốt của sự cai trị của Chúa đang phát triển, và cỏ dại cũng vậy. Quyền năng tối cao của Chúa vẫn tiếp tục ẩn giấu dưới vẻ ngoài yếu đuối. Sự cai trị của Chúa vẫn bất khả chiến bại trong mọi thời kỳ, và nó luôn hiện diện dưới hình thức thập tự giá. Cùng một cây thập tự giá cuối cùng sẽ đảm bảo chiến thắng chung cuộc dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời.

 

 

THƯ MỤC THAM KHẢO 

  1. Sigurd Grindheim (2018) Living in the Kingdom of God. Baker Academic
  2. Tackling the Problem? Chinese Football. Espresso, The Economist, Tháng 3/2017

https://espresso.economist.com. Truy cập ngày 3 tháng 5/2025.

  1. Trích từ bài phát biểu nhậm chức của Tổng thống John F. Kennedy, Washington, DC, ngày 20 tháng 1 năm 1961. 
  1. Martin Luther King Jr., A Call to Conscience: The Landmark Speeches of Dr. Martin Luther King, Jr., biên tập bởi Clayborne Carson và Kris Shepard (New York: Warner, 2001), trang 32-33.”
  2. King, Call to Conscience, trang 130. 
  1. King. Call to Conscience, 151. 
  1. King, Call to Conscience, 191. 
  1. King, Call to Conscience, 66,
  2. https://www.brainyquote.com/authors/martin-luther-quotes. Ngày truy cập 8 tháng 7, 2025
  3. https://vi.wikipedia.org/_Satan. Ngày truy cập 5 tháng 6, 2025.

Admin   huongdionline   com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Prove your humanity: 9   +   5   =