Tôi là người theo đạo Phật tại sao tôi nên xem xét trở nên Cơ Đốc nhân?

CÂU HỎI

Tôi là người theo đạo Phật tại sao tôi nên xem xét trở nên Cơ Đốc nhân?

TRẢ LỜI

So với Phật giáo, Cơ Đốc giáo có một vài khác biệt đặc trưng đáng được xem xét. Trước hết, trong khi Cơ Đốc giáo và Phật giáo cả hai có trung tâm lịch sử đặc trưng, danh xưng Giê Xu và Phật Thích ca phân biệt với nhau, chỉ có Giê Xu đã từ kẻ chết sống lại. Trong lịch sử, nhiều người là giáo sư khôn ngoan, nhiều người khởi xướng phong trào tôn giáo. Thái tử Tất Đạt Đa theo lịch sử Phật giáo còn gọi là Thích Ca Mâu Ni nổi bật trong số này vì sự khôn ngoan đặc biệt và triết lý sâu sắc của cuộc sống. Chúa Giê Xu cũng nổi bật và Ngài đã khẳng định những sự dạy dỗ thiêng liêng của Ngài bằng những việc thực hành mà chỉ có quyền năng thiên thượng mới có thể vượt qua. Chúa Giê Xu dạy dỗ bằng cách chứng tỏ bởi sự chết và sự sống lại của thân thể Ngài – Sự kiện này ứng nghiệm lời tiên tri của chính Ngài đã phán (Ma-thi-ơ 16:21; 20:18-19; Mác 8:31; Lu-ca 9:22; Giăng 20-21; 1 Cô-rinh-tô 15). Chúa Giê Xu đáng xem xét cách đặc biệt.

Thứ Hai, Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo là lịch sử nổi bật đáng xem xét nghiêm túc. Ngay cả người ta có thể nói rằng lịch sử Kinh Thánh quá hấp dẫn mà nghi ngờ Kinh Thánh là nghi ngờ chính lịch sử, vì Kinh Thánh là quyển sách lịch sử có thể xác nhận tất cả điều cổ xưa. Chỉ có Tân Ước là một quyển sách nhiều yếu tố lịch sử có thể xác nhận hơn Cựu Ước (Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ). Xin xem dẫn chứng sau:

1. Nhiều bản sao chép bằng tay dành cho Tân Ước, nhiều hơn bất kỳ bản cổ xưa nào khác. 5.000 bản sao bằng tiếng Hi Lạp cổ. 24.000 bản bằng các ngôn ngữ khác. Vô số bản sao chép tay cho phép nghiên cứu căn bản rộng lớn, bởi những điều này mà chúng ta có thể kiểm tra nội dung với những bản khác để xác định nguyên bản.

2. Những bản sao Tân Ước gần với thời đại nguyên bản hơn là bất kỳ bản cổ xưa nào. Tất cả nguyên bản được viết đương thời (các chứng nhân nhìn thấy) trong thế kỷ thứ I S.C. Và những bản sao chúng ta có được hiện nay vào khoảng 125 S.C. Toàn thể bản sao của Tân Ước xuất hiện vào năm 200 S.C. Tân Ước hoàn chỉnh có khoảng niên đại 250 S.C. Vào lúc đầu tất cả những sách Tân Ước được viết dưới mắt nhân chứng có nghĩa là họ không có thời gian chuyển thành thần thoại hoặc chuyện dân gian. Cộng với những lời công bố lẽ thật của họ là việc chịu trách nhiệm giữ vững bằng hành động tuận đạo và bởi những tín hữu Hội Thánh là những nhân chứng kiểm tra tất cả bằng chứng này.

3. Những văn bản của Tân Ước chính xác hơn bất kỳ văn tự cổ nào khác. John R.Robinson trong tác phẩm “Trung thực với Thượng Đế” thông báo rằng các văn tự Tân Ước chính xác 99,9% (Chính xác nhất trong số những quyển sách cổ hoàn tất) Bruce Metzger, một chuyên gia về Tân Ước Hi Lạp, đề nghị con số khiêm nhường hơn là 99,5%.

Thứ ba, đạo đức Cơ Đốc giáo có nền tảng vững mạnh hơn Phật giáo, đạo đức Cơ Đốc giáo được sáng lập bởi đặc tính riêng của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là thân vị và đạo đức. Bản chất của Ngài là thiện vì vậy tất cả những hành động tiếp theo của Ngài thực sự là tốt lành. Bất cứ điều nào tách rời khỏi sự thiện hảo của Ngài là tội lỗi. Tuy nhiên đối với Phật giáo sự thật cơ bản không xem như một cá nhân, nhưng đạo đức đòi hỏi tính chất cá nhân. Để minh họa hãy xem tính chất đạo đức như cục đá. Người ta không đổ lỗi cho cục đá vì đã bị kẻ giết người sử dụng, nó không phải là người để chịu trách nhiệm về những bổn phận đạo đức. Hơn thế nữa bổn phận đạo đức chỉ căn cứ mục đích tội ác qua hành vi phạm tội của người sử dụng cục đá. Phật giáo thiếu khung bổn phận đạo đức để gìn giữ cá nhân. Với Phật giáo nghiệp chướng là cái khung đạo đức, nhưng nghiệp chướng không phải là một chủ thể. Nó tương tự như luật tự nhiên. Phá hủy luật nghiệp chướng không phải là từ bỏ bản chất tội lỗi. Dường như không có sự khác biệt chính yếu nào giữa lầm lỗi (lỗi vô đạo đức) và tội lỗi (Những việc làm chống lại đạo đức). Hơn nữa nhiều tín đồ Phật giáo quả quyết tính đối ngẫu giữa “Thiện” và “Ác” cuối cùng đã bị phá bỏ. “Thiện” và “Ác” là một phần của thế giới vật chất tri giác. Thế giới ảo huyền của cảm giác thật. Các loại đạo đức không đủ mạnh để dẫn đến sự thuyết phục sự thật cơ bản. Và những cá nhân được khai tâm sẽ thấy thiện ác mờ nhạt trở thành như một. Đến nỗi ý nghĩa vị trí nền tảng của sự thật không phải thiện cũng không phải ác. Và những gì bảo đãm tồn tại của sự thật tối thượng là vẫn đuổi theo điều quan trọng hơn. Những điều làm nền tảng cho cuộc sống là sống đạo đức tốt để đối phó với cuộc sống phi đạo đức mà không cần xem xét phân biệt rõ rệt đạo đức hay sao? Hay là sống thụ động để tránh việc chọn lựa đạo đức càng nhiều càng tốt phải không? Nếu Phật giáo quả quyết thật sự không có cá nhân riêng biệt và sự phân biệt rõ rệt thiện ác trên thực tế là không thật, như vậy Phật giáo không có một nền tảng thật sự cho vấn đề đạo đức. Tuy vậy Cơ Đốc giáo có thể đưa ra hai khía cạnh về tính chất của Đức Chúa Trời như một nhân vật tạo ra đạo đức và cung cấp nền tảng để phân biệt thiện và ác.

Thứ tư, Cơ Đốc giáo có quyền đánh giá cao về “Khát vọng”. Đạo đức Phật giáo hình như có sự khó khăn cốt lõi ở điểm này. Đức Thích Ca Mâu Ni dạy rằng “Dục vọng” hoặc “Gắn bó” là cội nguồn của đau khổ và phải diệt nó đi. Nhưng một vài điều tốt đã được thừa nhận lại đặt nền tảng trên ý nghĩ của khát vọng. Tình yêu chẳng hạn, là sự khao khát tốt đẹp với người khác (Xin xem Giăng 15:13; I Giăng 4:7-12) Người ta không thể yêu thương trừ khi mức độ gắn bó với sự khao khát hạnh phúc cho một ai đó. Trái ngược lại Cơ Đốc giáo dạy rằng khát vọng là tốt lành khi nó được hướng dẫn thích hợp. Thánh Phao Lô khuyên các tín hữu hãy “khao khát những ân tứ lớn hơn” của Đức Thánh Linh (I Cô-rinh-tô 12:31; 14:1) Trong Thi Thiên chúng ta xem thấy hình ảnh những người thờ phượng Chúa kéo dài lòng khao khát được gần gũi thân mật với Đức Chúa Trời (Thi Thiên 42:1-2; 84) Và đương nhiên Đức Chúa Trời không chỉ đơn giản yêu thương nhưng Ngài là nguồn gốc của tình yêu thương. (I Giăng 4:9; Thi Thiên 136; Giăng 3:16). Sự hi sinh đòi hỏi đầy đủ như là câu thành ngữ “Yêu nhau trái ấu cũng tròn” (Tình yêu và sự chịu đựng).

Thứ năm là câu hỏi “Bạn phải làm gì với tội lỗi của bạn?”. Phật giáo có ít nhất hai ý tưởng về tội. Tội đôi lúc bị hiểu như là sự không biết. Nếu một người không thấy, không hiểu thực tại như lời Phật dạy, người ấy đầy tội. Tuy nhiên trong Phật giáo tội còn có ý nghĩa là một sai lầm về đạo đức. Làm điều gian ác có tính toán, phá hoại tinh thần hay luật của thế gian, hoặc ham muốn những điều xấu xa, những điều này là tội lỗi giống như nhau. Nhưng định nghĩa sau về tội cho thấy những sai lầm đạo đức đòi hỏi phải có sự chuộc tội thật sự. Đâu là căn nguyên của sự chuộc tội. Sự chuộc tội có thể nào gắn bó với qui luật của nghiệp chướng được không? Nghiệp chướng không bị ảnh hưởng bởi tình cảm con người và ngoài phạm vi luân lý. Để quân bình người ta có thể làm nhiều việc thiện nhưng không thể không bao giờ từ bỏ những điều xấu. Nghiệp chướng không cung cấp tình huống nào bởi đó con người sai lầm đạo đức hay có đạo đức. Nếu cá nhân chúng ta phạm tội ai giúp chúng ta chống lại được? Nghiệp chướng không quan tâm theo đường lối hoặc điều gì khác vì nghiệp chướng không phải chủ thể. Sự chuộc tội có thể nào bằng lời cầu nguyện hay cúng tế cho Chư Phật hay Phật tổ được không? Ngay cả nếu như chư Phật có đưa ra sự tha thứ thì dường như tội lỗi vẫn tồn tại không trả thế được. Họ đã tha tội, vì bề ngoài điều đó có thể tha thứ được, không có gì ghê gớm lắm.

Về phương diện khác, Cơ Đốc giáo dường như chỉ có một quan điểm thỏa đáng về tội trong Thần học. Trong Cơ Đốc giáo tội là đạo đức sai lạc. Bắt đầu từ A- Đam một con người được Đức Chúa Trời tạo nên nhưng đã phạm tội. Tội lỗi là thật. Nó tạo thành sự thiếu hụt vô hạn giữa con người và hạnh phúc. Tội lỗi cần bị phán xét nhưng nó không thể được tạo nên lực cân đối bằng số lượng làm nhiều công việc tốt. Nếu một người làm việc tốt gấp mười lần những việc làm xấu. Nhưng họ vẫn còn các việc xấu trong lương tâm. Điều gì xảy ra với những điều xấu vẫn tồn tại này? Phải chăng họ được tha thứ nếu họ không có liên hệ gì đến những điều phạm tội đầu tiên. Có phải họ sẽ được vào chốn hạnh phúc? Có chăng chúng chỉ là ảo tưởng đánh lừa theo đó những điều còn lại không có bất cứ vấn đề gì. Không thể chọn lựa điều nào trong những điều này cho thích hợp. Hãy xem xét những điều lừa dối, tội lỗi thật sự giải thích quá rõ cho chúng ta về sự lừa dối. Xem xét về tội lỗi của chúng ta. Khi chúng ta thành thật với chính mình, hết thảy chúng ta đều biết mình có tội. Xem xét về sự tha thứ, đơn giản là sự tha thứ tội không có giá phạt cũng như không gặt nhiều hậu quả mặc dầu chúng ta biết chúng ta phạm tội. Xem xét hạnh phúc, hạnh phúc không phải là điều tốt nếu tội lỗi vẫn giữ lén lút trong lòng. Nó như là những bậc thang của nghiệp chướng để lại với chúng ta, tội lỗi trong lòng khiến hạnh phúc cũng không chịu đựng nỗi. Hoặc nó cũng ngăn trở chúng ta bước vào hạnh phúc trọn vẹn.

Cơ Đốc giáo có lời giải đáp về tội lỗi. Có tội thì bị hình phạt. Nhưng sự hình phạt đã thỏa mãn xong trong công việc Chúa Giê Xu dâng hiến chính thân thể Ngài trên thập tự giá. Đức Chúa Trời đã trở thành người, sống đời sống trọn vẹn và chịu chết, sự chết của Ngài làm cho chúng ta được tha tội. Ngài đã chịu đóng đinh vì cớ chúng ta, Ngài chết thay vì chúng ta, và trả thay tội lỗi của chúng ta. Sau đó Ngài đã sống lại, bảo chứng rằng ngay cả sự chết cũng không thắng được Ngài. Hơn thế nữa Ngài hứa rằng Ngài sẽ ban sự sống phục sinh như vậy đối với những ai đặt niềm tin vào Ngài như là Cứu Chúa duy nhất của mình để được sự sống đời đời (Rô-ma 3:10, 23; 6:23; 8:12; 10:9-10; Ê-phê-sô 2:8-9; Phi-líp 3:21).

Điều này không phải là chủ thuyết “Niềm tin dễ chịu”, có nghĩa là xem Đức Chúa Trời như người quản gia chỉ lau sạch tất cả các lỗi lầm. Đúng hơn đây là một cam kết cho một cuộc sống lâu dài bởi một bản thể mới và một mối tương giao mới với chính Đức Chúa Trời. (Rô-ma 6:1; Ê-phê-sô 2:1-10). Khi một người tin thật sự vào Đức Chúa Trời là Đấng nói về chính Ngài trong Kinh Thánh và thật sự tin Đức Chúa Trời làm những gì Ngài nói trong Kinh Thánh, người nào hoặc anh hay chị đặt niềm tin vào Ngài, đời sống sẽ được thay đối. Bạn không thể cứ ở trong đời sống cũ như vậy một khi bạn đặt niềm tin vào Đức Chúa Trời. Người ta có thể dửng dưng đọc báo khi nhà mình đang cháy không? Có thể thấy rõ căn nhà bốc cháy thúc giục người ta phải thay đổi hành động, dừng ngay việc đọc báo để chạy đi chữa cháy cho ngôi nhà mình.

Chúa Giê Xu là câu trả lời đơn giản trong số nhiều lời giải đáp. Tất cả tôn giáo trên thế giới có mức độ về lẽ thật của họ. Nhưng cơ bản Chúa Giê Xu là giải pháp duy nhất cho điều kiện loài người. Suy ngẫm, làm việc, cầu nguyện – không điều nào trong những điều này làm chúng ta có giá trị của ân tứ vô hạn trong thiên đàng đời đời. Không điều nào trong những điều này làm chúng ta sửa lại được tội lỗi chúng ta đã làm. Chỉ khi nào Đấng Christ trả nợ thay cho tội của chúng ta và chúng ta đặt niềm tin vào Ngài thì sẽ được Cứu rỗi. Chỉ khi ấy tội lỗi mới được khỏa lấp, hi vọng được bảo đãm, và đời sống đầy tràn ý nghĩa sự sống đời đời.

Cuối cùng, chỉ có trong Cơ Đốc giáo chúng ta mới biết chúng ta được cứu. Chúng ta không dựa trên những kinh nghiệm nông cạn. Chúng ta cũng không dựa vào những công việc thiện hay những lôi cuốn nhiệt thành. Chúng ta cũng không đặt niềm tin vào những vị thần thánh để cố gắng “Nương tựa niềm tin để tồn tại”. Chúng ta có một Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật, một niềm tin có nguồn tin cậy lịch sử, một bộ Thánh Kinh do mặc khải của Thượng Đế làm chứng muôn đời và bảo đãm cho chúng ta được ở trong nhà đời đời trên thiên đàng với Thượng Đế.

Như thế điều này có ý nghĩa gì với bạn không? Chúa Giê Xu là sự thật tối thượng! Chúa Giê Xu là sinh tế hoàn toàn cho tội lỗi chúng ta. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự tha thứ và sự cứu chuộc nếu chúng ta chỉ cần làm việc đơn giản là tiếp nhận món quà của Ngài dành cho chúng ta (Giăng 1:12 “Hễ ai tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con của Thượng Đế.”) Tin Chúa Giê Xu làm Cứu Chúa có nghĩa là tin Ngài đã chết vì sự sống chúng ta. Chúng ta được làm bạn với Ngài. Nếu bạn đặt niềm tin của bạn vào Chúa Giê Xu như là Cứu Chúa, Ngài sẽ bảo đãm tuyệt đối cho bạn sự sống đời đời trên thiên đàng. Đức Chúa Trời tha thứ tội cho bạn, làm sạch linh hồn bạn, làm mới lại tâm linh của bạn, Ngài sẽ ban cho bạn cuộc sống phong phú trong thế giới này và sự sống đời đời trong thế giới đời sau. Làm thế nào chúng ta có thể từ chối món quà kỳ diệu như thế? Làm sao chúng ta có thể xây lưng lại với Đấng đã hi sinh mạng sống của Ngài làm vật sinh tế vì cớ yêu thương chúng ta?

Nếu bạn còn thiếu tự tin trong niềm tin chính mình. Chúng tôi xin mời bạn hãy cầu nguyện với Đức Chúa Trời như sau: “ Xin Thượng Đế giúp con biết điều chân thật. Xin giúp con biết nhận thức những lỗi lầm. Xin giúp con biết con đường thật dẫn đến sự cứu rỗi.” Đức Chúa Trời vui lòng đón nhận lời cầu nguyện của bạn.

Nếu bạn muốn tin nhận Chúa Giê Xu làm Cứu Chúa, đơn giản hãy nói với Đức Chúa Trời bằng lời nói hoặc trong thinh lặng, hãy nói với Ngài rằng bạn bằng lòng tiếp nhận Chúa Giê Xu như là món quà cứu chuộc cho đời sống bạn. Nếu bạn muốn cầu nguyện hãy nói theo cách hướng dẫn như sau: “Thưa Chúa tôi cảm ơn Ngài đã dành tình yêu cho tôi. Tôi cảm ơn Ngài vì sự hi sinh của Ngài đã dành cho tôi. Cảm ơn Chúa vì đã ban cho tôi sự tha thứ và sự cứu rỗi. Tôi bằng lòng tiếp nhận Chúa Giê Xu là món quà cứu rỗi dành cho tôi. Tôi tin Chúa Giê Xu là Cứu Chúa của tôi.” A-men!

Bạn có quyết định tin nhận Đấng Christ vì những gì mà bạn đã đọc không? Nếu có, xin bạn vui lòng nhấn vào nút nhấn bên dưới: “Hôm nay tôi bằng lòng tin nhận Đấng Christ”

English

QUESTION

I am a Buddhist. Why should I consider becoming a Christian?

Buddhist Christianaudio
ANSWER

Compared with Buddhism, Christianity has several distinguishing features that show that it deserves consideration.

First, while both Christianity and Buddhism have an historical central figure, namely Jesus and Buddha, only Jesus is shown to have risen from the dead. Many people in history have been wise teachers. Many have started religious movements. Siddhartha Guatama, the historical Buddha also called Sakyamuni, stands out among them for having special wisdom and a profound philosophy of life. But Jesus also stands out, and He has confirmed His spiritual teachings with a test that only divine power could pass. Jesus’ body of teachings is confirmed by the death and resurrection of His literal body—a fact which He prophesied and fulfilled in Himself (Matthew 16:2120:18-19Mark 8:311 Luke 9:22John 20-211 Corinthians 15). Jesus deserves special consideration.

Second, the Christian Scriptures are historically outstanding, deserving serious consideration. One could even say that the history of the Bible is so compelling that to doubt the Bible is to doubt history itself since the Bible is the most historically verifiable book of all antiquity. The only book more historically verifiable than the Old Testament (the Hebrew Bible) is the New Testament. Consider the following:

1) More manuscripts exist for the New Testament than for any other of antiquity—5,000 ancient Greek manuscripts, 24,000 in all including other languages. The multiplicity of manuscripts allows for a tremendous research base by which we can test the texts against each other and identify what the originals said.

2) The manuscripts of the New Testament are closer in age to the originals than are any other document of antiquity. All of the originals were written within the time of the contemporaries (eyewitnesses), in the first century A.D., and we currently have parts of manuscript dating back to A.D. 125. Whole book copies surface by A.D. 200, and the complete New Testament can be found dating back to A.D. 250. Having all the books of the New Testament initially written within the times of eyewitnesses means that the books did not have time to devolve into myth and folklore. Plus, their truth claims were held accountable by members of the Church who, as personal witnesses to the events, could check the facts.

3) The New Testament documents are more accurate than any other of antiquity. John R. Robinson in Honest to God reports that the New Testament documents are 99.9 percent accurate (most accurate of any complete antique book). Bruce Metzger, an expert in the Greek New Testament, suggests a more modest 99.5 percent.

Third, Christian ethics has a stronger foundation than Buddhist ethics. Christian ethics is founded in the personal character of God. God is personal and moral. His nature is good, and therefore all actions which align with His goodness are actually good. Whatever departs from His goodness is actually evil. For Buddhists, however, ultimate reality is not understood as personal. But morality by its very nature requires personality. To illustrate, consider the morality of a rock. One does not blame a rock for being used in a murder since it is not a person with moral duties. Rather, the moral duty lies with the person who used that rock for evil purposes. Buddhism lacks the personal framework for moral duty. With Buddhism, karma is the framework for morality. But karma is impersonal. It is akin to a law of nature. Breaking a karmic “rule” is not intrinsically evil. There seems to be no significant difference between error (non-moral mistakes) and sin (moral wrongdoing).

Furthermore, many Buddhists even assert that the dualities of “good” and “evil” ultimately break down. “Good” and “evil” would be part of maya, the illusory world of sensory reality. The categories of morality are not grand enough to map onto ultimate reality, and enlightened individuals will see that good and evil blur into one. But such a position means that ultimate reality would not be “good.” It wouldn’t be “evil” either, but then what assurance exists that “ultimate reality” is even a worthwhile pursuit? And what grounds would there be for living a morally good life as opposed to an amoral life without regard for moral distinctions, or an inactive life avoiding moral choices as much as possible? If Buddhism asserts that reality is not ultimately personal and the distinctions between good and evil are not actually real, then Buddhism does not have a true foundation for ethics. Christianity, on the other hand, can point to the character of God as personally founding morality and providing a basis to distinguish good from evil.

Fourth, Christianity rightly appreciates “desire.” Buddhist ethics seems to have a core difficulty at this point. Sakyamuni taught that tanha, “desire” or “attachment,” is the root of suffering and is to be dissolved. But some admittedly good things are based on the idea of desire. Love, for example, is “to desire the good of another” (John 15:131 John 4:7-12). One could not even love unless one had a degree of attachment in desiring someone else’s well-being. In contrast, Christianity teaches that desire is good when it is properly directed. Paul urges Christians to “desire the greater gifts” of the Spirit (1 Corinthians 12:3114:1). In the Psalms, we see pictures of worshipers longing for and desiring fellowship with God (Psalm 42:1-284). And, of course, God does not simply act loving, He is love (1 John 4:9Psalm 136John 3:16). Sacrificing desire altogether seems to throw out the proverbial baby (love) with the dirty bathwater (suffering).

Fifth is the question “What do you do with your sin?” Buddhism has at least two ideas of sin. Sin is sometimes understood as ignorance. It is sinful if one does not see or understanding reality as Buddhism defines it. However, in Buddhism, there is still an idea of moral error termed “sin.” To do something deliberately evil, to break a spiritual or earthly law, or to desire wrong things, these would be identifiable sins. But, this latter definition of sin points to a kind of moral error that requires real atonement. From where can atonement rise? Can atonement come by adherence to karmic principles? Karma is impersonal and amoral. One could do good works to even the balance, but one cannot ever dispose of sin. Karma does not even provide a context whereby moral error is even moral. Whom have we offended if we sin in private? Karma does not care one way or the other because karma is not a person. Can atonement come by prayer or devotion to a Bodhisattva or a Buddha? Even if those characters could offer forgiveness, it seems like sin would still be left unpaid. They would forgive sin showing it to be excusable; it is not a big deal.

Christianity, on the other hand, has the only adequate theological view of sin. In Christianity sin is moral error. Ever since Adam, humans have been sinful creatures. Sin is real. And it sets an infinite gap between man and bliss. Sin demands justice. But it cannot be “balanced out” with an equal or greater amount of good works. If someone has ten times more good works than bad works, then he or she still has bad works on the conscience. What happens to these remaining bad works? Are they just forgiven as if they were not a big deal in the first place? Are they permitted into bliss? Are they mere illusions thus leaving no problem whatsoever? None of these options are suitable.

Concerning illusion, sin is too real to us to be explained away as illusion. Concerning our sinfulness, when we are honest with ourselves we all know that we have sinned. Concerning forgiveness, to simply forgive sin at no cost treats sin like it is not of much consequence even though we know that to be false. Concerning bliss, bliss is not much good if sin keeps getting smuggled in. It seems like the scales of karma leave us with sin on our hearts and bliss either cannot tolerate us, or it must cease being perfect so that we can come in.

Christianity has an answer for sin. No sin goes unpunished, but the punishment has already been satisfied in Christ’s personal sacrifice on the cross. God became man, lived a perfect life, and died the death that we deserved. He was crucified on our behalf, a substitute for us, and a covering, or atonement, for our sins. Furthermore, He was resurrected, proving that not even death could conquer Him. He promises the same resurrection unto eternal life for all who put their faith in Him as their only Lord and Savior (Romans 3:10236:238:1210:9-10Ephesians 2:8-9Philippians 3:21).

This is no “easy believism” where God, like a janitor, just cleans up all our mistakes. Rather, this is a life-long commitment where we take on a new nature and begin a new relationship with God Himself (Romans 6:1Ephesians 2:1-10). When a person really believes God is who He says He is in the Bible, and really believes God did what He says He did in the Bible, and a person puts his or her life on that belief—that person is transformed. He becomes a new creation by the power of God (2 Corinthians 5:17). You cannot stay the same once you have that belief. One could just as easily continue reading the morning paper after realizing his house was on fire. That knowledge (the house is on fire) motivates action and changes your life (stop reading the paper and do something about the fire).

Nor is Jesus simply an answer among many others. All the world’s religions have some level of truth in them, but ultimately, Jesus is the only answer to the human condition. Meditation, works, prayer—none of these can make us worthy of the infinite and eternal gift of heaven. None of these can undo the sin we’ve done. Only when Christ pays our sin debt and we place our faith in Him can we be saved. Only then is sin covered, hope assured, and life filled with eternal meaning.

Finally, it is only in Christianity that we can know that we are saved. We do not have to rely on some fleeting experience, nor do we rely on our own good works or fervent meditation. Nor do we put our faith in a false god whom we are trying to “believe-into-existence.” We have a living and true God, an historically anchored faith, an abiding and testable revelation of God (Scripture), and a guaranteed home in heaven with God.

So, what does this mean for you? Jesus is the ultimate reality! Jesus is the perfect sacrifice for your sins. God offers all of us forgiveness and salvation if we will simply receive His gift to us (John 1:12), believing Jesus to be the Savior who laid down His life for us, His friends. If you place your trust in Jesus as your Savior, you will have absolute assurance of eternal life in heaven. God will forgive your sins, cleanse your soul, renew your spirit, give you abundant life in this world, and eternal life in the next world. How can we reject such a precious gift? How can we turn our backs on God who loved us enough to sacrifice Himself for us?

If you are unsure about what you believe, we invite you to say the following prayer to God; “God, help me to know what is true. Help me to discern what is error. Help me to know what is the correct path to salvation.” God will always honor such a prayer.

If you want to receive Jesus as your Savior, simply speak to God, verbally or silently, and tell Him that you receive the gift of salvation through Jesus. If you want a prayer to say, here is an example: “God, thank you for loving me. Thank you for sacrificing yourself for me. Thank you for providing for my forgiveness and salvation. I accept the gift of salvation through Jesus. I receive Jesus as my Savior. Amen!”

Have you made a decision to trust Jesus as your Savior because of what you have read here today? If so, please click on the “I have accepted Christ today” button below.

If you have any questions, please use the question form on our Bible Questions Answered page.

NGUỒN www.GotQuestions.org

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Prove your humanity: 0   +   1   =